Quan điểm mới của Y học cổ truyền trong điều trị ung thư

Chuyên mục: Khoa học Y - Dược , Lượt xem: 3972

 

Quan điểm mới của Y học cổ truyền về điều trị ung thư

Ung thư được coi là chứng nan y. Tuy nhiên YHCT Trung Quốc và Việt Nam đã tìm thấy trong thiên nhiên rất nhiều cây cỏ, khoáng vật có tác dụng rất tốt trong việc hạn chế và ngăn chặn sự phát triển của bệnh và đưa ra nhiều quan điểm về nguyên nhân, cơ chế phát sinh bệnh và nguyên tắc điều trị.

 


Có rất nhiều cỏ cây, khoáng vật có tác dụng trong việc hạn chế và ngăn chặn ung thư

 

Y học thường căn cứ vào triệu chứng các chứng trạng và nguyên nhân bệnh hoặc vào vị trí bệnh mà gọi tên. Chẳng hạn Y học hiện đại gọi ung thư lưỡi, thì YHCT gọi là thiệt khuẩn, ung thư môi – kén thần, ung thư vòm họng – hầu bạch diệp, ung thư tuyến giáp – thạch anh, ung thư môn vị, hang vị – phản vị... Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh là do ngoại nhân và nội nhân. Nội nhân chỉ chính khí suy nhược, âm dương rối loạn, khí huyết vận hành bất thường, công năng tạng phủ suy yếu. Ngoài ra nguyên nhân ăn uống cũng gây nên sự uất đọng trong kinh lạc và tạng phủ. YHCT nhấn mạnh do yếu tố bên trong gây ra các chứng lựu, chính khí suy nhược, ngoại tà thừa cơ xâm nhập vào kinh lạc và tạng phủ ảnh hưởng đến tà khí và lưu thông khí huyết, điều hòa âm dương mà gây ra khí trệ, huyết ứ, đàm ngưng. Độc tích lâu ngày hình thành u cục. Bên cạnh đó tình trạng tinh thần căng thẳng kéo dài, thói quen ăn uống không điều độ đều là những yếu tố thuận lợi, phối hợp với nhau gây nên bệnh lý u bướu. Chính khí hư tổn là yếu tố chính phát sinh ra u cục: sự xâm nhập của ngoại tà là điều kiện để u cục phát triển. Bệnh lý u cục biểu hiện tại chỗ khiến người ta chú ý, tại đó có các triệu chứng thuộc nhóm thực chứng. Còn biểu hiện toàn thân là sự suy yếu của chính khí. Vì thế nguyên tắc điều trị bệnh u bướu thường đề cập tới hai mặt: phù chính (bổ khí, huyết, tư âm, ôn dương) và Khứ tà (giải độc tức là hành khí, hoạt huyết, hóa ứ, hóa đàm, thanh nhiệt, giải độc, nhuyễn kiên làm mềm và tan biến các u cục).


Nguyên tắc điều trị bệnh u bướu  của YHCT được chia làm 3 bước: biện chứng và biện bệnh; điều trị tại chỗ và điều trị toàn thân; trị tiêu và trị bản. Biện chứng luận trị là phương pháp chủ yếu trong trị liệu của YHCT: Thông qua tứ chấn để tập hợp các triệu chứng, chứng trạng sau đó khái quát trên cơ sở phân tích làm rõ bệnh lý thuộc về khí hay huyết, thuộc về tạng hay phủ, thuộc về kinh lạc nào, xác định rõ giai đoạn bệnh thuộc âm hay dương, hư hay thực mà đưa ra biện pháp điều trị.


Trong điều trị bệnh u bướu còn cần làm rõ được bệnh danh, phân loại chứng hậu. Để làm được việc này thường phải kết hợp với Y học hiện đại để định rõ vị trí, tính chất và giai đoạn bệnh, phạm vi tổn thương ở mức vị thể rồi lựa chọn phối hợp thuốc đông dược. Ngoài ra còn phải chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác. Thông thường qua biện chứng và biện bệnh là để lựa chọn phương pháp điều trị, nâng cao hiệu quả làm tiêu mòn các u bướu, đồng thời với nâng cao sức đề kháng toàn thân.


Quan niệm của YHCT về bệnh u bướu là bệnh toàn thân mà biểu hiện tại chỗ: mối quan hệ giữa tại chỗ và toàn thân thể hiện tính đối lập và thống nhất của quá trình bệnh lý. Do vậy khi điều trị u bướu luôn phải quan tâm đến cải thiện tình trạng toàn thân tức là nâng cao sức đề kháng mà khống chế sự phát triển của u bướu. Phân tích kỹ sự thịnh, suy của khí huyết, hư thực của tạng phủ là để phát huy hiệu quả của liệu pháp công và bổ. YHCT áp dụng 8 phép để phù chính cố bản. Phù chính cố bản chính là bổ chính khí, điều hòa khí huyết và chức năng sinh lý của tạng phủ, kinh lạc, nâng cao khả năng chống đỡ bệnh tật, tăng cường thể trạng và khả năng miễn dịch tiến tới loại trừ u bướu. Ích khí kiện tỳ là phép cơ bản chữa khí suy mà biểu hiện mệt mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, nói nhỏ, đoản hơi, ăn ít, tự hãn, mạch vô lực, rêu lưỡi trắng mỏng. Bài thuốc thường gồm các vị hoàng kỳ, nhân sâm, thái tử sâm, bạch truật, phục linh, hoài sơn, cam thảo. Ôn thận tráng dương là chữa thận dương hư hoặc tỳ thận bất túc biểu hiện sợ lạnh, đau mỏi lưng gối, nói ít, thở yếu, sắc mặt nhợt, tiểu nhiều, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt rêu trắng mỏng, mạch trầm. Bài thuốc gồm phụ tử chế, nhục quế, nhung hươu, dâm dương hoắc, tỏa dương, nhục dung, ba kích, bị lệ. Tư âm bổ huyết dùng trong chứng huyết hư, biểu hiện chóng mặt, hoa mắt, hồi hộp, mất ngủ, sắc mặt khô vàng, môi và móng tay trắng, đau lưng, mạch tế, thường gặp ở giai đoạn cuối của bệnh u bướu hoặc sau khi hóa trị. Bài thuốc có thục địa, đương quy, a giao, bạch thược, qui bản, hà thủ ô, kỷ tử, long nhãn, đại táo, kê huyết đằng. Hoạt huyết hóa ứ chỉ định cho bệnh u bướu có biểu hiện huyết ứ, xuất hiện u cục, đau cố định, co cứng cơ, chất lưỡi có vết tím, tối hoặc ban tím, dưới lưỡi có mạch xanh phồng rõ, mạch huyền tế hoặc sáp thì được dùng bài thuốc có vị tam lăng, nga chuật, xuyên khung, đan sâm, xích thược, hồng hoa, đương qui, xuyên sơn giáp, đào nhân, vương bất lưu hành, thạch kiến xuyên, sinh bồ hoàn, ngũ linh chi, nhũ hương, mộc dược, thủy điệt, ngô công, toàn yết. Những vị thuốc trên có tác dụng sơ thông kinh lạc, hành huyết tán ứ, cải thiện tuần hoàn, ức chế sự tăng sinh của tổ chức liên kết, từ đó thu nhỏ dần u bướu. Thanh nhiệt giải độc chỉ định điều trị bệnh u bướu có nhiệt thịnh, biểu hiện sốt, đau, nóng tại chỗ, nước tiểu đỏ, đại tiện táo, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ đậm, mạch sác. Thuốc thường dùng là bạch hoa, xà thiện thảo, bán chi liên, thất diệp nhất chi hoa, sơn đậu căn, khổ sâm, hạ khô thảo, thanh đại, hoàng liên, hòang cầm, hoàng bá, cỏ đuôi công.

Theo Daidoanket (Minh Ngọc sưu tầm)

 

Cẩn trọng khi dùng thuốc cho trẻ em

Ngày: 07-07-2011

Trong sử dụng thuốc, người ta chỉ chú ý tới lứa tuổi trẻ em từ khi sinh ra (trẻ sơ sinh) cho tới 12 tuổi (trẻ lớn). Ở giai đoạn này, các chức năng của trẻ phát triển chưa hoàn chỉnh ảnh hưởng nhiều tới việc dùng thuốc cho trẻ.

 

Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ

 

Trẻ dưới 1 tuổi, đặc biệt là trẻ sơ sinh (dưới 1 tháng tuổi) sự hấp thu, phân bố, chuyển hoá và thải trừ của thuốc bị ảnh hưởng nhiều nhất vì mọi chức năng của cơ thể như việc bài tiết acid của dạ dày, hệ enzym phân tách thuốc để hấp thu, chức năng của gan, thận của trẻ chưa hoàn chỉnh. Hơn nữa, nhu động ruột của trẻ dưới 1 tháng tuổi hoạt động mạnh, trẻ đi ngoài rất nhiều lần trong ngày. Vì thế, không dùng những thuốc uống ở dạng tác dụng kéo dài cho trẻ trong giai đoạn này (vì nếu dùng thuốc chưa kịp hấp thu, phát huy tác dụng đã bị nhu động ruột tống ra ngoài theo phân rồi).

 

Nếu cơ thể người lớn có 60-70% là nước thì ở trẻ em nước chiếm tới 80%. Do cơ thể chứa nhiều nước (nhất là ở trẻ sơ sinh) nên ở lứa tuổi này cơ bắp chưa phát triển. Điều này giải thích vì sao ở giai đoạn sơ sinh người ta không dùng thuốc cho trẻ em theo đường tiêm bắp, đến 1 tuổi đường tiêm cho trẻ em vẫn là tĩnh mạch. Cũng do cơ thể trẻ chứa nhiều nước nên những thuốc tan trong nước có thể tích phân bố rất rộng. Bởi vậy, rất nhiều thuốc ở trẻ em phải dùng liều cao hơn người lớn thì mới đủ liều.

Do da trẻ em vô cùng mỏng, hàng rào biểu mô chưa trưởng thành, hơn nữa, diện tích bề mặt da so với trọng lượng cơ thể trẻ lớn (đặc biệt là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ) nên khả năng hấp thu thuốc qua da rất lớn, đặc biệt ở vùng bẹn hoặc mặt. Những thuốc bôi ngoài dễ bị kích ứng hoặc dị ứng, có thể có tác dụng toàn thân gây độc. Vì vậy, trẻ dưới 2 tuổi không bôi, xoa các loại tinh dầu lên da của trẻ, đặc biệt là vùng mũi. Nếu bôi thuốc mà băng lại, khả năng hấp thu thuốc qua da tăng và có thể gây độc. Ví dụ, trẻ em hay bị hăm, các bà mẹ hay bôi thuốc corticoid lại mặc bỉm ra ngoài sẽ làm tăng hấp thu thuốc có thể bị tác dụng phụ toàn thân gây hại cho trẻ.

Thận trọng khi dùng thuốc

Gan và thận của trẻ cũng phát triển chưa hoàn chỉnh nên việc thải trừ thuốc kém hơn và thuốc có thể bị tích lũy trong cơ thể dẫn đến gây độc. Vì thế khi dùng thuốc cho trẻ phải tính toán liều lượng hợp lý. Trước hết phải đọc kỹ hướng dẫn. Trường hợp trong hướng dẫn không nói liều cho trẻ em là bao nhiêu thì câu đầu tiên chúng ta cần hỏi thuốc có được dùng cho trẻ em hay không? Thực tế có những thuốc không có liều dùng cho trẻ em và ghi thận trọng dùng cho trẻ em (có nghĩa là cho đến thời điểm hiện tại kinh nghiệm sử dụng thuốc này cho trẻ em chưa đầy đủ nên thận trọng khi dùng). Khi dùng, bác sĩ phải căn cứ vào cân nặng, diện tích bề mặt cơ thể… để tính toán liều lượng phù hợp. Đặc biệt là đối với những trường hợp trẻ bị suy dinh dưỡng.

Đối với trẻ dưới 6 tuổi nên dùng đường uống, dạng lỏng. Với các loại bình xịt phải có dụng cụ thích hợp.

Một số thuốc không nên dùng cho trẻ em: nhóm cyclin như tetracyclin (vì sẽ làm hỏng răng trẻ), corticoid (gây chậm lớn), androgen (gây dậy thì sớm), các kháng sinh quinolon, ciproxacin, ofloxacin, fluoroquinolon… không dùng cho trẻ em vì ảnh hưởng tới xương, sụn của trẻ.

Theo Meyeucon.org  (Minh Ngọc sưu tầm)

 

 

Thuốc tiêm, thuốc uống – Loại nào tốt hơn ?

 

Thuốc bao giờ cũng có các dạng bào chế khác nhau để thầy thuốc lựa chọn cho phù hợp với từng mức độ bệnh, tình trạng bệnh nhân.

 


Phải dùng đường tiêm bắt buộc với những trường hợp có rối loạn hấp thu tại đường tiêu hóa

 

Khi thầy thuốc quyết định cho người bệnh sử dụng thuốc uống hay thuốc tiêm (tiêm bắp, tiêm dưới da hay tiêm tĩnh mạch chậm, tiêm nhỏ giọt) là hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích điều trị, kết hợp với tình trạng thực tế của người bệnh cũng như về dược lực, dược động học của thuốc ấy (thời gian phát huy tác dụng và hết tác dụng của thuốc).

Yêu cầu khi dùng thuốc là phải chọn lựa loại thuốc tốt có nghĩa là thuốc nhanh chóng có được nồng độ đủ để phát huy tác dụng kịp thời sau khi sử dụng, có thời gian tồn tại trong máu càng lâu càng tốt, để không phải dùng nhiều lần trong ngày. Mặt khác thuốc không gây nhiều tác dụng phụ nguy hiểm, dễ sử dụng, mùi vị dễ chịu khi uống hoặc khi tiêm ít đau và giá thành hợp lý nhất.

Thuốc bao giờ cũng có các dạng bào chế khác nhau để thầy thuốc lựa chọn cho phù hợp với từng mức độ bệnh, tình trạng bệnh nhân và dễ dàng sử dụng, thuận lợi cho người bệnh và nhất là đối với người cao tuổi, trẻ em.

Về dược động học, khi đưa bất cứ một thứ thuốc nào vào cơ thể, thuốc cũng cần có một thời gian nhất định để hấp thu vào máu, đủ để phát huy tác dụng và sẽ bị cơ thể loại bỏ bằng các cách khác nhau ra khỏi cơ thể.

Thuốc dùng qua đường tiêm sẽ nhanh chóng có nồng độ cao trong máu và trong vùng bị bệnh, nghĩa là sẽ sớm phát huy tác dụng. Nhưng thuốc tiêm cũng nhanh chóng bị đào thải ra khỏi cơ thể.

Chẳng hạn khi sử dụng kháng sinh như tiêm ampicilin qua đường tĩnh mạch, sau 2 – 3 phút sẽ có nồng độ tối đa trong máu và thuốc sẽ bị loại trừ ra khỏi cơ thể sau 5 giờ nên phải tiêm ít nhất 4 lần mới giữ được nồng độ thuốc thích hợp để có thể chống được vi khuẩn sinh sôi nảy nở trong máu.

Còn nếu tiêm bắp sẽ mất 45 - 60 phút để có nồng độ tối đa cần thiết và sẽ bị đào thải khỏi cơ thể sau 7 -8 giờ, như vậy đòi hỏi phải tiêm bắp ít nhất 3 lần mỗi ngày mới đủ tác dụng.

Ngược lại, nếu uống phải mất 2 giờ sau mới đạt nồng độ tối đa cần thiết nhưng thuốc chỉ bị đào thải phần lớn sau khoảng 10 giờ và người bệnh chỉ cần uống 2 lần mỗi ngày cũng có thể đủ tác dụng cần thiết.

Như vậy trong thực tế phải dùng đường tiêm bắt buộc với những trường hợp có rối loạn hấp thu tại đường tiêu hóa, hay nôn trớ thường xuyên nên không thể đưa thuốc vào đường tiêu hóa.

Hoặc trong trường hợp nhiễm khuẩn quá nặng (nhiễm khuẩn máu có choáng, nhiễm khuẩn máu do não mô cầu… ). Còn trong đại đa số tình trạng khác đều có thể dùng đường uống với liều lượng thích hợp sẽ có tác dụng chữa bệnh như đường tiêm. Dùng đường uống còn tránh được đau đớn cho bệnh nhân nhất là trẻ em, ít có tác dụng phụ và tai biến hơn tiêm, dễ dùng và giá thành hợp lý.

 

Theo Afamily  (Minh Ngọc sưu tầm)

 

 

Kẹo cao su chữa bệnh ?

 

Từ một món ăn khoái khẩu, kẹo cao su giờ đây đã dần chuyển thành một sản phẩm chứa nhiều chức năng trong đó có chức năng như một viên thuốc “đa công dụng”.

 


Các hãng dược phẩm lớn trên thế giới đã khai thác “thế mạnh” của viên kẹo cao su, kết hợp với công lực của những liều dược chất để cho ra đời thế hệ kẹo – thuốc chữa bệnh kiểu mới. Nhờ sáng tạo này mà doanh thu của ngành kẹo cao su đã tăng lên 12 tỷ USD mỗi năm trên phạm vi toàn thế giới.

 

Viên kẹo cao su đầu tiên

Kẹo cao su xuất hiện đầu tiên trên thế giới cách đây hàng nghìn năm trước. Người Hy Lạp cổ đại chính là chủ nhân đầu tiên chế tạo ra kẹo cao su từ cây ma-tít. Ngoài ra, những người Maya cổ đại và dân da đỏ ở Bắc Mỹ cũng đã biết “thưởng thức” loại kẹo này từ lâu. Chúng được làm từ những loại cây khác nhau nhưng đều có chung đặc điểm là dai dẻo. Thế nhưng phải đến năm 1848 thì kẹo cao su mới xuất hiện như một mặt hàng tiêu dùng được bán rộng rãi ở Mỹ. Thành phần chính của loại kẹo cao su này được chiết xuất từ cây gỗ vân sam. Tất nhiên loại kẹo này còn khác xa với những chiếc kẹo cao su mà chúng ta đang nhai hiện nay.

Đến năm 1871, nhà phát minh người Mỹ Thomas Adams đã chế tạo ra loại kẹo cao su từ một số hợp chất hóa học đặc biệt. Từ đó về sau, viên kẹo cao su đã được cải tiến rất nhiều về hương vị, màu sắc cũng như độ dẻo dai… để trở thành một sản phẩm được ưa thích trên toàn thế giới.

 

Đến kẹo cao su chứa dược chất

Qua đường miệng, từ lâu đã có nhiều dạng thuốc uống như thuốc bột, thuốc viên nén trần, viên nén bao, viên nang… nhưng dạng thuốc trong hình hài chiếc kẹo cao su lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1998, trong Dược điển Anh và dược điển châu Âu năm này có ghi: “Kẹo cao su nhai chứa thuốc là chế phẩm dạng rắn chứa một liều dược chất nhất định và tá dược cơ bản là gôm giúp cho việc nhai mà không nuốt chế phẩm này. Nhờ quá trình nhai, các hoạt chất có trong kẹo sẽ tỏa ra, hòa tan, phân tán vào trong nước bọt, từ đó cho tác dụng tại chỗ đối với các bệnh ở hàm, miệng, đường tiêu hoá hoặc cho tác dụng toàn thân”.

 

Một số loại thuốc - kẹo cao su đã có mặt trên thị trường

Kẹo cao su chữa sâu răng:

Để biến chiếc kẹo cao su thành liều thuốc chữa bệnh răng miệng, một hãng dược phẩm của Mỹ đã nghĩ ra cách bổ sung chất ksylitol vào thành phần của kẹo. Theo Journal of Medicine, chất này được chiết xuất từ cây bạch dương, có tác dụng kìm hãm sự phát triển của các vi khuẩn sống trong vòm miệng, phòng ngừa được 70% bệnh sâu răng.

 

Sản phẩm bỏ túi của những người béo phì:

Hiện nay, trên thị trường có khá nhiều loại thuốc điều trị bệnh béo phì dưới dạng kẹo cao su và là sản phẩm bỏ túi của hàng triệu người trên thế giới mắc căn bệnh này. Sản phẩm là kết quả nghiên cứu của các chuyên gia thuộc Đại học Liverpool (Anh). Khác với những chiếc kẹo cao su mà mọi người thường nhai, chiếc kẹo - thuốc chữa béo phì có chứa chất pancreatic polypeptide (PP), một hormon tự nhiên giúp ngăn chặn cảm giác thèm ăn. Theo kết quả thử nghiệm của các chuyên gia, sau khi nhai hai thanh kẹo thuốc có bổ sung chất PP, người béo phì không còn cảm giác đói bụng và thèm ăn nữa. Đến bữa ăn họ cũng ăn ít hơn.

 

Giải pháp mới cho những bệnh nhân suy thận:

Ở những bệnh nhân bị suy thận, lượng phốt-phát trong máu thường tăng cao. Mới đây, một số hãng dược phẩm đã cho ra đời những viên kẹo cao su có thành phần hấp thu chất phốt-phát. Sản phẩm thử nghiệm trên 60 bệnh nhân suy thận có hàm lượng phốt phát trong máu cao. Những người này được yêu cầu nhai kẹo cao su có thành phần hấp thu chất phốt-phát 2 lần trong ngày giữa các bữa ăn. Kết quả cho thấy, hàm lượng phốt-phát trong nước bọt và máu ở người bệnh giảm mạnh, tới 55% trong nước bọt và 31% trong máu.

 

Giúp cai nghiện thuốc lá:

Đó là những viên kẹo cao su được bổ sung nicotin tinh chất cùng một số hoạt chất hỗ trợ nhằm làm giảm dần nhu cầu của cơ thể đối với nicotin. Đáp ứng nhu cầu của thị trường, các hãng dược phẩm cho ra đời hai dạng viên. Một loại chứa hàm lượng 2mg nicotin dành cho người nghiện nhẹ và một loại chứa 4mg nicotin dành cho người nghiện nặng. Mỗi ngày, chỉ cần dùng 10 viên, nhai trong vòng 30 phút để hoạt chất trong thuốc sẽ được tỏa ra hết. Lượng nhỏ hoạt chất nicotin này sẽ giúp người nghiện dần dần giảm cơn thèm và đi đến ngừng hút.

 

Chữa chứng ợ chua:

Nếu bạn bị ợ chua, phương pháp chữa trị hữu hiệu nhất hiện nay mà không cần đến bất kì một liều thuốc nào là nhai kẹo cao su có bổ sung chất chống axít. Đây chính là kết quả nghiên cứu của các công ty dược phẩm sau khi tiến hành so sánh tác dụng của kẹo cao su có bổ sung chất chống axít với viên kháng axít. Nghiên cứu này được tiến hành trên 24 tình nguyện viên mắc chứng ợ chua. Những tình nguyện viên được chọn kẹo cao su có bổ sung chất chống axít hoặc viên nén kháng axít sau khi ăn. Kết quả kẹo cao su dạng này đã mang lại hiệu quả nhanh và lâu dài hơn trong việc giảm các triệu chứng ợ chua so với viên nén kháng axít.

 

jeuner_rosier (theo SK&ĐS)

Các tin mới khác